Tổng cộng:
[tintuc]
1. NGUYÊN NHÂN+ Theo Y Học Hiện Đại
+ Nguyên nhân môi trường
- Môi trường sinh sống, làm việc, thói quen sinh hoạt cũng ảnh hưởng tới quá trình sản xuất tinh trùng. Hoá chất công nghiệp. Mở rộng tiếp xúc với benzenes, toluene, xylene, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, dung môi hữu cơ, vật liệu sơn và chì có thể góp phần vào số lượng tinh trùng thấp.
- Tiếp xúc với kim loại nặng. Tiếp xúc với chì hoặc kim loại nặng khác cũng có thể gây ra vô sinh.
- Bức xạ hay X-quang. Tiếp xúc với bức xạ có thể làm giảm sản xuất tinh trùng, mặc dù nó thường sẽ dần dần trở lại bình thường. Với liều cao của bức xạ, sản xuất tinh trùng có thể giảm vĩnh viễn.
- Nhiệt độ tinh hoàn nóng. Nhiệt độ cao làm giảm khả năng sinh tinh và chức năng của tinh trùng. (Do tắm hơi thường xuyên, đặt máy tính trên đùi, thường xuyên lái xe đường dài)
+ Một số nguyên nhân khác gây vô sinh nam bao gồm:
- Sử dụng ma túy. Anabolic steroid thực hiện để kích thích sức mạnh cơ bắp và tăng trưởng có thể gây ra các tinh hoàn co lại và sản xuất tinh trùng giảm.
- Sử dụng cocaine hay cần sa có thể tạm thời làm giảm số lượng và chất lượng tinh trùng của bạn là tốt.
- Uống rượu có thể làm giảm nồng độ testosterone, gây rối loạn chức năng cương dương và giảm sản xuất tinh trùng.
- Bệnh gan do uống rượu quá mức cũng có thể dẫn đến các vấn đề về sinh sản.
- Hút thuốc lá. Những người đàn ông hút thuốc có thể có một số lượng tinh trùng thấp hơn so với những người không hút thuốc. Khói thuốc cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của nam giới.
- Căng thẳng cảm xúc. Căng thẳng có thể gây trở ngại với một số hormone cần thiết để sản xuất tinh trùng. Nặng hoặc kéo dài căng thẳng cảm xúc, bao gồm cả vấn đề với khả năng sinh sản, có thể ảnh hưởng đến số lượng tinh trùng của bạn.
- Cân nặng. Béo phì có thể làm giảm khả năng sinh sản bằng nhiều cách, trong đó trực tiếp ảnh hưởng đến tinh trùng mình cũng như bằng cách gây ra những thay đổi nội tiết tố làm giảm khả năng sinh sản của nam giới.
2. MỘT SÓ BÀI THUỐC ĐÔNG Y CÓ TÁC DỤNG ĐIỀU TRỊ
a. Nhị tiện thập tử đan
Tiên mao 12g Phụ tử 6g Phỉ thái tử 12g
Tang thầm 15g Câu kỉ tử 12g Phúc bồn tử 12g
Tiên linh kỳ 12g Thỏ ty tử 30g Xà sàng tử 12g
Nữ trinh tử 15g Ngũ vị tử 06g Xa tiền tử 15g
- Cách dùng: Sắc uống ngày 1 thang chia 2 lần sáng ,chiều.
- Công hiệu: Sau khi kết hôn không có con, người béo trệ không có lực, sắc mặt trắng bệch, đàu váng tim hồi hộp, buồn nôn, liệt dương, xuất tinh sớm, số lượng tinh trùng ít, hoạt động yếu, chất lưỡi đỏ nhạt, rêu trắng mỏng, mạch nhu hoạt.
b, Ngũ tử diễn tông hoàn.
-Thành phần: Thỏ ti tử 240g ; Câu kỉ từ 240g ;
Xa tiền tử 6g Ngū vị tử 30g Phúc bồn tử 120g
-Cách dùng : Các vị thuốc trên nghiền thành bột mịn , luyện mật làm hoàn. Mỗi lần uống 6 - 9g mỗi ngày 2 - 3 lần uống với nước chín hoặc nước muối loãng. Cũng có thể dùng ẩm phiến làm thang, sắc nước uống, liều dùng căn cứ tỉ lệ gốc mà thêm.
- Công hiệu : Ôn dương ích thận bổ tinh thêm tủy.
- Chủ trị : tinh hàn không thể có con, tinh dịch khác thường, không phóng tinh, suy giảm ham muốn, tiểu tiện xong còn rỉ mãi không hết, lưng mỏi gối lỏng, râu tóc bạc sớm, đái đêm nhiều, lưỡi nhạt rêu mỏng, mạch trầm tế nhuyễn.
-Nếu âm hư thì gia thêm thục địa hoàng, sơn thù nhục, thiên môn đông. Dương hư thì gia thêm nhục thung dung, lộc nhung, nhục quế, ba kích nhục; âm dương cả hai đều hư thì gia thêm tang phiêu tiêu, ích trí nhân, liệt dương thì gia thêm tiên mao, tiên linh tì, toả dương, cẩu tích; di tinh thì gia thêm kim anh tử, khiếm thực, liên tu; trẻ nhỏ đái dầm thì gia thêm kê nội kim, bổ cốt chi.
- Dược lý hiện đại nghiên cứu chứng minh bài thuốc này có tác dụng tăng cường miễn dịch, điều tiết nội tiết, gia tăng hormon giới tính, chống thiếu oxy, chống mệt mỏi, bổ thận.
c. Ngũ tử hoàn ( Thế y đặc hiệu phương )
-Thành phần:
Thỏ ti tử 240g ; Ích trí nhân 120g ; Cửu tử sao 120g ;
Hồi hương tử sao 60g; Xà sàng tử sao 60g
- Cách dùng: Nghiền thành bột mịn, luyện mật, hoàn thành viên, uống 18 - 27g / ngày, chia 3 lần .
- Công hiệu: Bổ thận ôn dương, ích tinh tủy
Chủ trị : Người cơ thể suy nhược, đái đêm nhiều, đầu nặng chân yếu, di tinh rỉ đục, đái ra như nước gạo, tinh trùng kém di động.
d. Thấp nhiệt hạ chú phải thanh nhiệt lợi thấp, tiêu thũng giải độc, thường chọn dùng bài thuốc Long đởm tả can thang phối hợp với Tỳ giải thẩm thấp thang gia giảm :
Long đởm thảo 10g Hoàng bá 10g Thông thảo 10g
- Môi trường sinh sống, làm việc, thói quen sinh hoạt cũng ảnh hưởng tới quá trình sản xuất tinh trùng. Hoá chất công nghiệp. Mở rộng tiếp xúc với benzenes, toluene, xylene, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, dung môi hữu cơ, vật liệu sơn và chì có thể góp phần vào số lượng tinh trùng thấp.
- Tiếp xúc với kim loại nặng. Tiếp xúc với chì hoặc kim loại nặng khác cũng có thể gây ra vô sinh.
- Bức xạ hay X-quang. Tiếp xúc với bức xạ có thể làm giảm sản xuất tinh trùng, mặc dù nó thường sẽ dần dần trở lại bình thường. Với liều cao của bức xạ, sản xuất tinh trùng có thể giảm vĩnh viễn.
- Nhiệt độ tinh hoàn nóng. Nhiệt độ cao làm giảm khả năng sinh tinh và chức năng của tinh trùng. (Do tắm hơi thường xuyên, đặt máy tính trên đùi, thường xuyên lái xe đường dài)
+ Một số nguyên nhân khác gây vô sinh nam bao gồm:
- Sử dụng ma túy. Anabolic steroid thực hiện để kích thích sức mạnh cơ bắp và tăng trưởng có thể gây ra các tinh hoàn co lại và sản xuất tinh trùng giảm.
- Sử dụng cocaine hay cần sa có thể tạm thời làm giảm số lượng và chất lượng tinh trùng của bạn là tốt.
- Uống rượu có thể làm giảm nồng độ testosterone, gây rối loạn chức năng cương dương và giảm sản xuất tinh trùng.
- Bệnh gan do uống rượu quá mức cũng có thể dẫn đến các vấn đề về sinh sản.
- Hút thuốc lá. Những người đàn ông hút thuốc có thể có một số lượng tinh trùng thấp hơn so với những người không hút thuốc. Khói thuốc cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của nam giới.
- Căng thẳng cảm xúc. Căng thẳng có thể gây trở ngại với một số hormone cần thiết để sản xuất tinh trùng. Nặng hoặc kéo dài căng thẳng cảm xúc, bao gồm cả vấn đề với khả năng sinh sản, có thể ảnh hưởng đến số lượng tinh trùng của bạn.
- Cân nặng. Béo phì có thể làm giảm khả năng sinh sản bằng nhiều cách, trong đó trực tiếp ảnh hưởng đến tinh trùng mình cũng như bằng cách gây ra những thay đổi nội tiết tố làm giảm khả năng sinh sản của nam giới.
+ Theo Y Học Cổ Truyền
-Thận khí hư nhược: cơ thể hư yếu, hoả suy , dương vật không cương được lâu , hoặc phòng dục vô độ làm cho thận tinh quá hao tổn, âm hư hoả vượng, tướng hoả vượt quá mức bình thường, nội nhiệt gây nên huyết táo mà dẫn tới không có con.
- Khí huyết đều hư: Do suy nghĩ quá độ, đa sầu đa cảm, lao động mệt mỏi gây tổn thương đến tâm , tâm huyết suy , âm dương khí huyết hư . Hoặc bị bệnh ngày cơ thể hư nhược, mệt mỏi quá thương tổn tỳ, ảnh hưởng chức năng vận hoá của tỳ vị, nguồn sinh hoá hao tổn, khí huyết không sung túc, tinh và huyết cùng nguồn gốc, hậu thiên mất điều hoà, tinh chất của thức ăn không đủ để hoá sinh khí huyết, dẫn tới thận tinh không đầy đủ nên không thể có con.
- Can uất khí trệ: Do tinh thần không được thư thái, tức giận nhiều gây tổn thương tới can, can khí uất kết, khí huyết không lưu thông, gây khí trệ huyết ứ, thận không được nuôi dưỡng đầy đủ nên không có con.
- Đờm thấp trở trệ: Do ăn quá nhiều chất bổ béo mà sinh ra đàm thấp làm cho tinh khiếu bất lợi, không có khả năng phóng tính, hoặc lượng tinh dịch loãng ít, hoặc do cảm phải ngoại tà làm cho thấp nhiệt hạ trú ở thận thận khí bị tổn thương, dẫn tới liệt dương di tinh, ảnh hưởng sinh dục.
- Khí huyết đều hư: Do suy nghĩ quá độ, đa sầu đa cảm, lao động mệt mỏi gây tổn thương đến tâm , tâm huyết suy , âm dương khí huyết hư . Hoặc bị bệnh ngày cơ thể hư nhược, mệt mỏi quá thương tổn tỳ, ảnh hưởng chức năng vận hoá của tỳ vị, nguồn sinh hoá hao tổn, khí huyết không sung túc, tinh và huyết cùng nguồn gốc, hậu thiên mất điều hoà, tinh chất của thức ăn không đủ để hoá sinh khí huyết, dẫn tới thận tinh không đầy đủ nên không thể có con.
- Can uất khí trệ: Do tinh thần không được thư thái, tức giận nhiều gây tổn thương tới can, can khí uất kết, khí huyết không lưu thông, gây khí trệ huyết ứ, thận không được nuôi dưỡng đầy đủ nên không có con.
- Đờm thấp trở trệ: Do ăn quá nhiều chất bổ béo mà sinh ra đàm thấp làm cho tinh khiếu bất lợi, không có khả năng phóng tính, hoặc lượng tinh dịch loãng ít, hoặc do cảm phải ngoại tà làm cho thấp nhiệt hạ trú ở thận thận khí bị tổn thương, dẫn tới liệt dương di tinh, ảnh hưởng sinh dục.
Tóm lại: Chứng bệnh vô sinh do nam giới, phần nhiều có liên quan với 4 tạng tâm, can, tỳ, thận, trong đó có quan hệ chặt chẽ nhất với thận.
2. MỘT SÓ BÀI THUỐC ĐÔNG Y CÓ TÁC DỤNG ĐIỀU TRỊ
a. Nhị tiện thập tử đan
Tiên mao 12g Phụ tử 6g Phỉ thái tử 12g
Tang thầm 15g Câu kỉ tử 12g Phúc bồn tử 12g
Tiên linh kỳ 12g Thỏ ty tử 30g Xà sàng tử 12g
Nữ trinh tử 15g Ngũ vị tử 06g Xa tiền tử 15g
- Cách dùng: Sắc uống ngày 1 thang chia 2 lần sáng ,chiều.
- Công hiệu: Sau khi kết hôn không có con, người béo trệ không có lực, sắc mặt trắng bệch, đàu váng tim hồi hộp, buồn nôn, liệt dương, xuất tinh sớm, số lượng tinh trùng ít, hoạt động yếu, chất lưỡi đỏ nhạt, rêu trắng mỏng, mạch nhu hoạt.
b, Ngũ tử diễn tông hoàn.
-Thành phần: Thỏ ti tử 240g ; Câu kỉ từ 240g ;
Xa tiền tử 6g Ngū vị tử 30g Phúc bồn tử 120g
-Cách dùng : Các vị thuốc trên nghiền thành bột mịn , luyện mật làm hoàn. Mỗi lần uống 6 - 9g mỗi ngày 2 - 3 lần uống với nước chín hoặc nước muối loãng. Cũng có thể dùng ẩm phiến làm thang, sắc nước uống, liều dùng căn cứ tỉ lệ gốc mà thêm.
- Công hiệu : Ôn dương ích thận bổ tinh thêm tủy.
- Chủ trị : tinh hàn không thể có con, tinh dịch khác thường, không phóng tinh, suy giảm ham muốn, tiểu tiện xong còn rỉ mãi không hết, lưng mỏi gối lỏng, râu tóc bạc sớm, đái đêm nhiều, lưỡi nhạt rêu mỏng, mạch trầm tế nhuyễn.
-Nếu âm hư thì gia thêm thục địa hoàng, sơn thù nhục, thiên môn đông. Dương hư thì gia thêm nhục thung dung, lộc nhung, nhục quế, ba kích nhục; âm dương cả hai đều hư thì gia thêm tang phiêu tiêu, ích trí nhân, liệt dương thì gia thêm tiên mao, tiên linh tì, toả dương, cẩu tích; di tinh thì gia thêm kim anh tử, khiếm thực, liên tu; trẻ nhỏ đái dầm thì gia thêm kê nội kim, bổ cốt chi.
- Dược lý hiện đại nghiên cứu chứng minh bài thuốc này có tác dụng tăng cường miễn dịch, điều tiết nội tiết, gia tăng hormon giới tính, chống thiếu oxy, chống mệt mỏi, bổ thận.
c. Ngũ tử hoàn ( Thế y đặc hiệu phương )
-Thành phần:
Thỏ ti tử 240g ; Ích trí nhân 120g ; Cửu tử sao 120g ;
Hồi hương tử sao 60g; Xà sàng tử sao 60g
- Cách dùng: Nghiền thành bột mịn, luyện mật, hoàn thành viên, uống 18 - 27g / ngày, chia 3 lần .
- Công hiệu: Bổ thận ôn dương, ích tinh tủy
Chủ trị : Người cơ thể suy nhược, đái đêm nhiều, đầu nặng chân yếu, di tinh rỉ đục, đái ra như nước gạo, tinh trùng kém di động.
d. Thấp nhiệt hạ chú phải thanh nhiệt lợi thấp, tiêu thũng giải độc, thường chọn dùng bài thuốc Long đởm tả can thang phối hợp với Tỳ giải thẩm thấp thang gia giảm :
Long đởm thảo 10g Hoàng bá 10g Thông thảo 10g
Hoàng cầm 10g Chi tử 10 Đan bì 10g
Trạch tả 10g Bạch linh 10g Đương quy 10g
Trạch tả 10g Bạch linh 10g Đương quy 10g
Tỳ giải 20g Xa tiền tử 20g Ý dĩ 20g
Sinh địa 20g
- sắc uống mỗi ngày 1 thang.
e. Với thể Đàm trọc ngưng trệ phải hóa đàm lý khí, hóa kết thông lạc, thường dùng bài thuốc Thương phụ đạo đàm thang gia giảm:
Thương truật 10g Trần bì 10g Bán hạ chế 10g
Đởm nam tinh 10g Hương phụ 10g Bạch linh 10g
Bạch truật 10g Trạch tả 10g Xa tiền tử 15g
Tỳ giải 15g Xuyên sơn giáp 15g
- sắc uống mỗi ngày 1 thang.
f. Với thể Huyết ứ trở trệ: phải hoạt huyết hóa ứ thông tinh, thường dùng bài thuốc Huyết phủ trục ứ thang gia giảm:
Sinh địa 20g
- sắc uống mỗi ngày 1 thang.
e. Với thể Đàm trọc ngưng trệ phải hóa đàm lý khí, hóa kết thông lạc, thường dùng bài thuốc Thương phụ đạo đàm thang gia giảm:
Thương truật 10g Trần bì 10g Bán hạ chế 10g
Đởm nam tinh 10g Hương phụ 10g Bạch linh 10g
Bạch truật 10g Trạch tả 10g Xa tiền tử 15g
Tỳ giải 15g Xuyên sơn giáp 15g
- sắc uống mỗi ngày 1 thang.
f. Với thể Huyết ứ trở trệ: phải hoạt huyết hóa ứ thông tinh, thường dùng bài thuốc Huyết phủ trục ứ thang gia giảm:
Sài hồ 10g Chỉ xác 10g Ngưu tất 10g
Hồng hoa 10g Đào nhân 10g Xích thược 10g
Hồng hoa 10g Đào nhân 10g Xích thược 10g
Đương quy 14g Xuyên sơn giáp 15g Kê huyết đằng 15g
Đan sâm 20g Vương bất lưu hành 20g
- Sắc uống mỗi ngày 1 thang.
Đan sâm 20g Vương bất lưu hành 20g
- Sắc uống mỗi ngày 1 thang.
+ Xét về Y Học Hiện Đại thì tương ứng với các chứng sau :
- Tinh trùng giảm thiểu: nguyên nhân thường do thận tinh hư yếu.
- Tinh trùng chết nhiều: nguyên nhân thường do khí huyết hư nhược, không đủ nuôi tinh trùng.
- Tinh trung dị dạng: thường sử dụng rượu bia, thuốc lá, thuốc tây độc hại và các chất kích thích.
- Tinh Trùng ngưng tập, kém di động: thường do can khí uất kết, thường căng thẳng và cáu giận, kèm mỡ máu, men gan tăng.
Khi bị lâu ngày các nguyên nhân có thể kèm theo hoặc chuyển hóa lẫn nhau, nên khi khám cần có cái nhìn tổng thể để có chẩn đoán đúng nhất.
+ Bệnh án: Nguyễn x x, 29t, kết hôn 3 năm chưa con, phía nữ đã khám phụ khoa nhiều lần không phát hiện bệnh. Bệnh nhân sắc mặt kém tươi nhuận, má đỏ vào chiều, sốt nhẹ ra mồ hôi trộm, mồm họng khô táo, tinh thần thi mệt mỏi, thể gầy đầu váng tai ù, đêm khó ngủ, lưng gối nhức mỏi, dương sự dễ cương nhưng không cứng, thỉnh thoảng tảo tiết, lưỡi đỏ ít rêu, mạch trầm tế sác.
- Xét nghiệm tinh dịch: lượng bình thường, mật độ tinh trùng 32 x 10/ ml, tỷ lệ sống 55% hoạt lực 30%, di động độ I 20%, độ II 10%, dị dạng 15%.
- Chứng thuộc thận âm bất túc, âm hư hỏa vượng; phép trị an dùng tư âm giáng hỏa ích thận sinh tinh dùng bài Tả qui hoàn hợp Đại bổ âm hoàn gia giảm, thuốc có: thục địa, sơn dược đều 20g, sơn thù, qui bản giao (uống riêng), hoàng bá, tri mẫu, lộc giác giao (uống riêng), ngưu tất, đơn bì, thỏ ti tử 15g, sắc uống ngày 1 thang, uống 1 tháng, các triệu chứng ít nhiều đều có giảm, y đơn cũ gia hồng sâm 15g (uống riêng) hoàng kỳ 20g, uống tiếp 1 tháng, sau đó, bệnh nhân sắc da tươi nhuận, tinh thần phấn khởi, người lên cân, nguyên đơn uống thêm 1 tháng. Sau đó đơn cũ gia ngư phiêu 15g (uống riêng), uống tiếp 1 tháng, sức khỏe bệnh nhân tốt lên rõ, xét được nghiệm lại tinh dịch kết quả: lượng tinh dịch tin 2.5ml, thời gian ly giải đạt mật độ 150 x 105/ml, 1 tỷ lệ sống 65% di động 40%,độ I 30% độ II 10%, dị dạng 15%, vẫn y đơn uống thêm 1 tháng.
- Kết quả xét nghiệm tinh dịch lần cuối: lượng 3ml, thời gian ly giải đạt, mật độ tinh trùng 320x105/ ml, tỷ lệ sống 80%, tỷ lệ di động tốt, độ II 20%, độ III 20%, dị dạng 10%. Đơn cũ cho lượng thuốc Điện tăng 10 lần làm viên uống 10g/ần x 2 lần/ngày. 6 tháng sau báo vợ đã có thai.
- Xét nghiệm tinh dịch: lượng bình thường, mật độ tinh trùng 32 x 10/ ml, tỷ lệ sống 55% hoạt lực 30%, di động độ I 20%, độ II 10%, dị dạng 15%.
- Chứng thuộc thận âm bất túc, âm hư hỏa vượng; phép trị an dùng tư âm giáng hỏa ích thận sinh tinh dùng bài Tả qui hoàn hợp Đại bổ âm hoàn gia giảm, thuốc có: thục địa, sơn dược đều 20g, sơn thù, qui bản giao (uống riêng), hoàng bá, tri mẫu, lộc giác giao (uống riêng), ngưu tất, đơn bì, thỏ ti tử 15g, sắc uống ngày 1 thang, uống 1 tháng, các triệu chứng ít nhiều đều có giảm, y đơn cũ gia hồng sâm 15g (uống riêng) hoàng kỳ 20g, uống tiếp 1 tháng, sau đó, bệnh nhân sắc da tươi nhuận, tinh thần phấn khởi, người lên cân, nguyên đơn uống thêm 1 tháng. Sau đó đơn cũ gia ngư phiêu 15g (uống riêng), uống tiếp 1 tháng, sức khỏe bệnh nhân tốt lên rõ, xét được nghiệm lại tinh dịch kết quả: lượng tinh dịch tin 2.5ml, thời gian ly giải đạt mật độ 150 x 105/ml, 1 tỷ lệ sống 65% di động 40%,độ I 30% độ II 10%, dị dạng 15%, vẫn y đơn uống thêm 1 tháng.
- Kết quả xét nghiệm tinh dịch lần cuối: lượng 3ml, thời gian ly giải đạt, mật độ tinh trùng 320x105/ ml, tỷ lệ sống 80%, tỷ lệ di động tốt, độ II 20%, độ III 20%, dị dạng 10%. Đơn cũ cho lượng thuốc Điện tăng 10 lần làm viên uống 10g/ần x 2 lần/ngày. 6 tháng sau báo vợ đã có thai.
Bác Sĩ Đức Trí
[/tintuc]